Sự khác nhau giữa Đình, Chùa, Đền, Miếu, Nghè, Điện, Phủ, Quán, Am là gì?

Trong đời sống văn hóa và tâm linh của người Việt Nam, có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như nhà chung, chùa, chùa, chùa, miếu, cửa hàng, am … nhưng không phải ai cũng hiểu ý nghĩa của những nơi thờ cúng đó. .

Hiện nay, có rất nhiều người đi chùa nhưng không hiểu ý nghĩa của việc đi chùa, gần ngôi nhà nơi ngôi nhà chung không hiểu tại sao ngôi nhà chung lại “mọc” ở đó …

Do đó, chúng tôi đã chỉnh sửa bài viết này để giúp người đọc dễ dàng phân biệt các nơi thờ cúng khác nhau, hiểu ý nghĩa của việc thờ cúng và các nhân vật được thờ trong đó.

Một ngôi đền là gì?

Chùa là một công trình kiến ​​trúc cho mục đích tôn giáo. Chùa được xây dựng phổ biến ở các nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thường là nơi thờ Phật. Ở nhiều nơi, chùa có nhiều điểm tương đồng với chùa Ấn Độ, đó là nơi cất giữ Malaya và chôn cất các bậc thầy vĩ đại, thường được bao quanh bởi nhiều tòa tháp.

Chùa Một Cột có phong cách kiến ​​trúc độc đáo.

Chùa Một Cột có phong cách kiến ​​trúc độc đáo.

Chùa là một nơi điển hình cho Chan như, được nhân cách hóa bằng hình ảnh của một vị Phật được thờ ở giữa chùa. Nhiều ngôi chùa được thiết kế như một Malaya, bao gồm một trục trung tâm với các vị Phật ở bốn hướng. Ngoài ra còn có nhiều chùa với nhiều tầng, tượng trưng cho Tam giới (ba cõi), hàng ngũ tiêu biểu cho Thập kỷ Bồ tát. Có nhiều ngôi chùa được xây dựng trên tám mặt tượng trưng cho Pháp Luân hoặc Bát chánh đạo.

Ngôi chùa cũng là nơi tụ tập của các tu sĩ, nữ tu, (hoặc nữ tu nếu là chùa nữ) để thực hành, thực hành và thuyết giảng Phật giáo. Ở nơi này, tất cả mọi người, kể cả tín đồ hay không tín ngưỡng, có thể đến thăm, nghe kinh hoặc thực hành các dịch vụ tôn giáo.

“Chùa” theo tiếng Trung-Việt cũng có nghĩa là “tu viện”, là nơi để yên nghỉ tượng phật và là nơi nương tựa cho tăng ni. Ngày nay, trong thực tế, chùa được gọi bằng cả hai từ phổ biến Trung-Việt như “Tu”, “Quan”, “Am”.

Nhà chung là gì?

Trước đây, theo tình hình chung của cả nước, nhà rông của làng Việt chỉ là cửa hàng nghỉ ngơi. Năm 1231, Trần Nhân Tông xuống xuống để chiếu tượng Phật trong chùa. Năm 1491, nhà vua xây dựng Quảng Văn Định để trở thành nơi để mọi người đánh trống và kiến ​​nghị và xuất bản và giải thích các chính sách của nhà nước phong kiến ​​ở Thăng Long.

>>> Xem thêm :  Những bài văn khấn rằm tháng Giêng ý nghĩa và chuẩn nhất

Ngôi nhà chung của làng có chức năng là nơi thờ phụng các vị thần gia giáo và là nơi gặp gỡ của người dân có lẽ bắt đầu từ thời nhà Lê đầu và hình thành trong triều đại Mac.[1] Có lẽ sự phát triển của Nho giáo vào cuối thế kỷ 15 đã cấy Hoàng thành vào nhà chung. Nhưng bây giờ, dấu vết sớm nhất của ngôi làng xã chỉ gặp nhau từ thế kỷ 16. Trước đây, nhà xã chỉ có 3 phòng và 2 cánh. Ở giữa không có gian hàng, trong nhà thờ để thờ phụng thần. Vào cuối thế kỷ 17, từ giữa và mở rộng, nó được gọi là chuồng ma, tạo ra ngôi nhà chung theo phong cách của Dinh. Vào cuối thế kỷ 17, đặc biệt là vào thế kỷ 19, ngôi nhà chung đã được thêm vào tòa án hiến tế.

Nhà làng làng Bằng Bằng là ngôi nhà cổ nổi tiếng nhất ở vùng đất Kinh Bắc, được xây dựng vào năm 1700 và chỉ hoàn thành vào năm 1736. (Ảnh: VOV)

Nhà làng làng Bằng Bằng là ngôi nhà cổ nổi tiếng nhất ở vùng đất Kinh Bắc, được xây dựng vào năm 1700 và chỉ hoàn thành vào năm 1736. (Ảnh: VOV)

Một vị thần hộ mệnh là một người có công với người dân, một đất nước, một ngôi làng, một ngôi làng hoặc một người sáng lập (tổ tiên của nghề). Dưới các triều đại thường phong chức Hoàng thành, bởi vì hầu hết các công đức gia sư đều có công với đất nước. Dân làng, hoặc các bang hội, những người đã đến định cư ở những nơi khác cũng đã xây dựng các đền thờ và đền thờ để thờ phụng vị thần của họ tại nơi ở mới.

Một ngôi đền là gì?

Một ngôi đền là một cấu trúc kiến ​​trúc được xây dựng để thờ một vị thánh hoặc nhân vật lịch sử được tôn thờ như những vị thần. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là những ngôi đền được xây dựng để tưởng nhớ công đức của những anh hùng đã đóng góp cho đất nước hoặc công đức của một cá nhân và địa phương được xây dựng theo văn hóa dân gian.

Ở Việt Nam, có nhiều nhân vật có thật trong lịch sử xây dựng chùa ở nhiều nơi là vua: Lý Nam Đế, Triệu Quang Phúc, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành; nhân vật lịch sử: Lý Quốc Sư, Lý Thường Kiệt, Tô Hiền Thành, Thanh Tam Giang, Trần Hưng Đạo và các vị thần như Tân Viên, Cao Sơn, Quý Minh.

Thánh địa Miếu Đen - Đền vua Lý Nam Đế ở làng Đồng Pháp, xã Tiền Phong, huyện Phố Yên, tỉnh Thái Nguyên

Thánh địa Miếu Đen – Đền vua Lý Nam Đế ở làng Đồng Pháp, xã Tiền Phong, huyện Phố Yên, tỉnh Thái Nguyên

Những ngôi chùa nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, Đền Kiếp Bắc, Đền Sóc, Đền Trần … thờ các vị anh hùng dân tộc.

Đền Voi Phúc, Đền Bạch Mã, Đền Kim Liên, Đền Quan Thành … thờ các vị thánh theo văn hóa dân gian.

>>> Xem thêm :  [Tips] Khắc phục: Lỗi Failed to initialize Direct3D

Đền thờ là gì?

Miêu là một hình thức di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam nhỏ hơn chùa. Đối tượng thờ cúng trong chùa rất đa dạng, thể hiện qua tên của ngôi đền – tên theo đối tượng thờ cúng thường nhỏ và mang tính biểu tượng.

Ví dụ: Đền Cô, đền Cầu, đền thờ thần núi gọi chung là chùa Sơn Thần, đền nước được thờ là đền thờ Bà Ba hoặc đền Thủy Thần. Đền thờ của Trái đất Thần được gọi là Thần đất hay Thần đất.

Thúy Thần Miêu-Miêu Bà Thúy (Thị trấn Voi Voi, Huyện Phú Tân, Cà Mau)

Thúy Thần Miêu-Miêu Bà Thúy (Thị trấn Voi Voi, Huyện Phú Tân, Cà Mau)

Ngôi đền thường được xây dựng trên các gò đất cao, ở sườn núi, ven sông hoặc trên đỉnh làng, ở cuối làng, những nơi yên tĩnh để lũ quỷ có thể định cư và không phải chịu mọi tiếng ồn của cuộc sống. Ở một số nơi, trong ngày giỗ của các vị thần như ngày sinh, ngày thần thánh (của thần), ngày biểu lộ (của thiên thần) của ngôi làng, để mở lễ tế, lễ hội và chào đón thần từ chùa đến nhà chung. Sau khi hy sinh, đoàn rước trở về đền thờ.

Những ngôi đền nhỏ còn được gọi là Miêu (được người dân miền Nam gọi tắt)

Jing là gì?

Một dạng đền thờ và đền thờ linh thiêng. Kiến trúc này thường liên quan chặt chẽ đến một di tích trung tâm. Thỉnh thoảng, Nghệ thờ phụng làng trong một ngôi làng nhỏ, tách biệt với làng gốc là Nghệ Hải Triều (Cẩm Giang – Hải Dương).

Cổ Quan Quan - kiến ​​trúc cổ Quảng Ninh từ thời nhà Trần

Cổ Quan Quan – kiến ​​trúc cổ Quảng Ninh từ thời nhà Trần

Nghệ cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một vị thần trong xã để thích nghi với người dân địa phương để tạo điều kiện cho các hoạt động tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng nhu cầu thờ cúng hàng ngày, như Nghệ ở Trường Yên là một kiến ​​trúc phụ của đền vua Đinh.

Ngai vàng lâu đời nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII.

Đền thờ là gì?

Hội trường là một hội trường lớn, thường cho biết Chúa ở đâu và Chúa Thánh Thần ngự ở đâu. Do đó, Đền là một dạng Đền thờ, là nơi thờ phụng Thánh trong tín ngưỡng của Tứ quốc.

Thánh địa

Thánh địa

Tuy nhiên, kích thước của ngôi đền nhỏ hơn ngôi đền và cung điện, lớn hơn ngôi đền. Sức mạnh chung là thờ Phật, Mẹ Mậu, Tam Tự Phú, Trần Triệu và các vị thần nổi tiếng khác.

Điện có thể là công cộng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ, thường có ngai vàng, máy tính bảng, kiểm tra, tượng thần và các đồ thờ khác: tam son, bát nhang, nến, đài hoa, lọ hoa, vàng mã, …

Lớp phủ là gì?

Phú là một nét đặc trưng của tín ngưỡng Mau (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ cúng (ở Thanh Hóa) gọi chùa là cung điện.

>>> Xem thêm :  [Tips] Cách tự động khắc phục sự cố trên Windows 10

Hồ Tây

Hồ Tây

Có thể hiểu rằng Cung điện là nơi thờ phụng Thánh Mẫu khá sầm uất, với tính chất trung tâm của một khu vực rộng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi hành hương (tương tự như nơi tổ tiên của núi Sơn). Đạo Phật).

Cung điện còn lại sớm nhất hiện được gọi là ngôi đền của các vị thần khiêu vũ ở chùa But Tháp, có từ giữa thế kỷ 17.

Một cửa hàng là gì?

Quan là một loại đền gắn liền với Đạo giáo (Đạo giáo). Vào thế kỷ 11 và 14, tôn giáo Đạo giáo ở Việt Nam nặng về một câu chuyện cổ tích, vì vậy ngôi đền về cơ bản giống như một ngôi đền thánh.

Đến thế kỷ XVI và XVII, cuộc khủng hoảng Nho giáo đã khiến một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng chú ý nhiều đến tôn giáo Đạo giáo, và ngôi đền Đạo giáo có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ phụng các vị thần cơ bản theo Trung Quốc.

Bích Quan Dao Quan

Bích Quan Dao Quan

Đó là Ba vị hiền triết (Theravada Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quan, Thái Thượng Lao Quan), Ngu Nhac nổi lên với Đông Phương Sóc và Mẹ Tây vua, sau đó là Cha và Mẹ. Cửu vĩ (Kim, Mộc, Thủy, Hoa, Thổ, Mặt trời, Mặt trăng, Hồ Phú, Kế Do) cũng có tượng của hoàng đế Hoàng Quan (Ngọc Hoàng) trên sảnh chính.

Những nhà hàng tiêu biểu như Hùng Thành Quán, Lâm Dương Quan, Hội Linh Quân, Linh Tiến Quán … đều có ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). “Thăng Long từ bốn cửa hàng” bao gồm: Chân Vũ Quân (tức là chùa Quán Thanh ở đường Quán Thành); Cửa hàng Huyền Huyền cổ (nay là chùa Quan Huyền Thiên ở phố Hàng Khoái); Đồng Thiên Quân (nay là chùa Kim Cô ở đường Dương Thành); De Thich Quan (nay là chùa vua ở đường Thịnh Yên).

Là gì

Hiện nay được coi là một công trình nhỏ thờ phật Phật. Có nguồn gốc từ Trung Quốc, được mô tả như một ngôi nhà nhỏ, lợp mái, được sử dụng làm nơi ở cho cha mẹ để tang của cha mẹ ông, sau đó thay đổi cấu trúc với một mái nhà tròn, mái tranh, làm nơi ở và nơi đọc sách cho văn nhân. Từ thời nhà Đường, Am đã là một nữ tu và một tu sĩ Phật giáo trong một khu vườn tư nhân.

5-my-chau-2

Đối với người Việt Nam, Am là nơi thờ Phật (Hương Hai là một ngôi chùa Phật giáo, Thổ Am là một Chua Dau – Hà Tây …) và đôi khi là một ngôi chùa nhỏ thờ các vị thần của làng. – Vào thế kỷ 15 (đầu triều đại Lê) là một nơi yên tĩnh để đọc thơ và làm thơ.

Đền thờ tâm linh trong các ngôi làng hoặc đền thờ của các linh hồn trong nghĩa địa cũng được gọi là am.

Nguyên Phong (TH)

Xem thêm nhiều bài mới tại : https://xemweb.info/thu-thuat/

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.